PHÓ QUỐC CÔNG NGUYỄN NHƯ TRÁC (THỤY ĐỨC KHÁNH)
Nguyễn Phước Bửu Nam
2026-08-28T07:11:44-04:00
2026-08-28T07:11:44-04:00
https://nguyenphuoctoc.info/tim-hieu-nha-nguyen/pho-quoc-cong-nguyen-nhu-trac-thuy-duc-khanh-1026.html
/themes/egov/images/no_image.gif
Nguyễn Phước Tộc
https://nguyenphuoctoc.info/uploads/logo_1.png
PHÓ QUỐC CÔNG NGUYỄN NHƯ TRÁC (THỤY ĐỨC KHÁNH): THÂN THẾ, HÀNH TRẠNG VÀ VỊ TRÍ ĐỊA VĂN HÓA – LỊCH SỬ TRONG TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH THẾ LỰC NGUYỄN GIA MIÊU
Từ Nguyễn Công Duẩn đến Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Kim và các Chúa Nguyễn(Kỷ niệm ngày mất 17 tháng 7 âm lịch của ngài)
⁃ NP Bửu Nam và nhóm nghiên cứu lịch sử văn hóa Nhà Nguyễn
PHÓ QUỐC CÔNG NGUYỄN NHƯ TRÁC (THỤY ĐỨC KHÁNH): THÂN THẾ, HÀNH TRẠNG VÀ VỊ TRÍ ĐỊA VĂN HÓA – LỊCH SỬ TRONG TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH THẾ LỰC NGUYỄN GIA MIÊU
Từ Nguyễn Công Duẩn đến Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Kim và các Chúa Nguyễn(Kỷ niệm ngày mất 17 tháng 7 âm lịch của ngài)
⁃ NP Bửu Nam và nhóm nghiên cứu lịch sử văn hóa Nhà Nguyễn
Tóm tắt
Nguyễn Như Trác (阮如琢), tự Hạo, thụy Đức Khánh, theo truyền thống gia phả Nguyễn Gia Miêu là con thứ tư của Hoằng Quốc công Nguyễn Công Duẩn, một công thần thời Lê sơ; là thân phụ của Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu và, theo hệ phả Nguyễn Phúc Tộc, là ông nội của Nguyễn Kim.
Tư liệu trực tiếp về Nguyễn Như Trác hiện còn ít. Gia phả ghi ông làm quan dưới hai triều Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông, giữ chức Tham Đốc, tước Hầu; sau khi mất được truy phong Thái Bảo, Phó Quốc công. Ngày mất được truyền là 17 tháng 7 âm lịch, nhưng năm mất hiện chưa xác định chắc chắn. Một số bản phả còn có cách gọi khác về tước hiệu của ông. Vì vậy, cần phân biệt chức vụ lúc sinh thời với tước phong hoặc truy phong về sau.
Ý nghĩa lịch sử của Nguyễn Như Trác không nên được đánh giá bằng những chiến công mà sử liệu hiện chưa đủ khả năng xác nhận. Ông đáng chú ý hơn ở vị trí một mắt xích liên thế hệ trong quá trình duy trì địa vị xã hội của dòng Nguyễn Gia Miêu: từ công trạng và nguồn lực của Nguyễn Công Duẩn, qua thế hệ Nguyễn Như Trác và Nguyễn Văn Lưu, đến mạng lưới chính trị của Nguyễn Kim và sau đó là sự hình thành thế lực Nguyễn ở Thuận Hóa – Quảng Nam.
Vấn đề đặc biệt quan trọng là quan hệ thân tộc của Nguyễn Kim. Đại Việt sử ký toàn thư ghi Nguyễn Kim là người Bái Trang, huyện Tống Sơn và chú “có thuyết nói” ông là con Nguyễn Hoằng Dụ. Trong khi đó, truyền thống gia phả Nguyễn Gia Miêu và Nguyễn Phúc tộc thế phả xác định Nguyễn Văn Lưu là thân phụ Nguyễn Kim. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Nhuệ cho thấy chính các thư tịch như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử và Phủ biên tạp lục cũng có những điểm không thống nhất về thế thứ của các nhân vật này.
Do đó, Nguyễn Như Trác nên được nghiên cứu không phải đơn thuần như “ông tổ của các Chúa Nguyễn”, mà như một nhân vật nằm trong quá trình tích lũy và chuyển hóa vốn dòng họ, vốn ruộng đất, vốn chức tước, mạng lưới quan hệ và ký ức địa phương của cộng đồng Nguyễn Gia Miêu.
Từ khóa: Nguyễn Như Trác; Nguyễn Công Duẩn; Nguyễn Văn Lưu; Nguyễn Kim; Nguyễn Hoàng; Gia Miêu Ngoại Trang; Tống Sơn; địa văn hóa; phả hệ; Lê sơ; Lê trung hưng; chúa Nguyễn.
1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử hình thành thế lực Nguyễn, Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng thường được xem là những nhân vật trung tâm. Tuy nhiên, phía sau các nhân vật nổi tiếng ấy là nhiều thế hệ quan lại và thành viên dòng họ ít được chính sử ghi chép. Nguyễn Như Trác thuộc lớp nhân vật đó.
Nếu chỉ hỏi Nguyễn Như Trác đã lập được những công trạng gì, tư liệu hiện có không cho phép dựng một tiểu sử đầy đủ. Nhưng nếu đặt ông vào cấu trúc rộng hơn của dòng họ – quê quán – ruộng đất – chức tước – quan hệ chính trị – ký ức tổ tiên, vị trí của ông trở nên rõ hơn.
Theo cách tiếp cận này, Gia Miêu không chỉ là quê tổ. Đó là một địa bàn lịch sử, nơi cư trú, ruộng đất, quan hệ làng xã, dòng họ và mạng lưới quan lại tương tác qua nhiều thế hệ. Từ không gian ấy, một bộ phận họ Nguyễn từng bước tham gia vào đời sống chính trị nhà Lê; sau những biến động thế kỷ XVI, mạng lưới ấy tiếp tục chuyển dịch về Thuận Hóa – Quảng Nam.
2.Nguyễn Như Trác trong thế phả Nguyễn Gia Miêu
Theo truyền thống gia phả Nguyễn Gia Miêu và hệ thống phả Nguyễn Phúc Tộc, thế thứ được ghi nhận là:
Nguyễn Công Duẩn → Nguyễn Như Trác → Nguyễn Văn Lưu → Nguyễn Kim → Nguyễn Hoàng.
Hệ thống tôn phả Nguyễn Phúc Tộc hiện công bố cũng đặt Nguyễn Như Trác ở đời thứ 14, Nguyễn Văn Lưu ở đời thứ 15 và Nguyễn Kim ở đời thứ 16; Nguyễn Như Trác được ghi là “Phó Quốc công”, Nguyễn Văn Lưu là “Trừng Quốc công”, Nguyễn Kim là “Triệu Tổ”.
Tuy nhiên, đây là truyền thống phả hệ, không nên đồng nhất ngay với một chuỗi đã được chính sử xác nhận hoàn toàn.
Nguyễn Phúc tộc thế phả được Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc Tộc biên soạn trong giai đoạn 1990–1993, xuất bản tại Huế năm 1995. Bản giới thiệu của chính bộ phả cho biết việc biên soạn có đối chiếu nhiều thư tịch và gia phả; đồng thời hệ thống tôn phả hiện nay cũng ghi rõ cơ sở của nó gồm Hoàng Tộc Lược Biên năm 1943 và Nguyễn Phúc tộc thế phả năm 1995.
Vì vậy, đối với Nguyễn Như Trác cần giữ nguyên tắc: phả hệ là nguồn quan trọng để nghiên cứu ký ức dòng họ, nhưng từng chi tiết phải được đối chiếu với chính sử, văn bia, sắc phong, mộ chí và các nguồn độc lập khác.
3.Nguyễn Như Trác: một nhân vật “ở giữa”
Nguyễn Như Trác đứng ở một vị trí đặc biệt trong tiến trình lịch sử của dòng Nguyễn Gia Miêu.
Ông thuộc thế hệ sau Nguyễn Công Duẩn – người đã đưa gia tộc bước vào tầng lớp công thần, quan lại của nhà Lê sơ – và trước thế hệ Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Kim, những người trực tiếp tham dự vào các biến động chính trị đầu thế kỷ XVI.
Theo gia phả, Nguyễn Như Trác:
• • húy Như Trác, tự Hạo, thụy Đức Khánh;
• • là con thứ tư của Nguyễn Công Duẩn;
• • làm quan dưới thời Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông;
• • được truyền là giữ chức Tham Đốc, tước Hầu;
• • sau khi mất được truy phong Thái Bảo, Phó Quốc công;
• • ngày mất được truyền là 17 tháng 7 âm lịch, nhưng năm mất hiện chưa xác định chắc chắn.
Điểm cần lưu ý là các tước hiệu trong phả hệ có thể thuộc những thời điểm khác nhau. Không nên lấy tước truy phong sau khi mất để dựng thành chức vụ lúc sinh thời nếu chưa có chứng cứ độc lập.
Vì vậy, kết luận thận trọng nhất hiện nay là: Nguyễn Như Trác thuộc tầng lớp quan lại – quân sự của nhà Lê sơ và là một nhân vật có vị thế trong dòng Nguyễn Gia Miêu; còn chi tiết về chức vụ, niên đại và hành trạng cụ thể cần tiếp tục khảo chứn
4. Từ Nguyễn Công Duẩn đến Nguyễn Như Trác: sự duy trì địa vị dòng họ
Ý nghĩa của Nguyễn Công Duẩn không chỉ nằm ở công trạng quân sự đối với nhà Lê. Quan trọng hơn, công trạng ấy được chuyển hóa thành địa vị xã hội và nguồn lực vật chất cho hậu duệ.
Có thể hình dung quá trình:
công trạng → chức tước → ruộng đất → địa vị địa phương → hậu duệ quan lại → mạng lưới chính trị.
Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn cũng truy nguyên dòng họ Nguyễn ở Thuận Hóa về Nguyễn Công Duẩn, người Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống Sơn, và tiếp tục kể đến các thế hệ Văn Lang, Hoằng Dụ và Nguyễn Kim. Tuy nhiên, chính đoạn văn này lại bộc lộ sự nhầm lẫn về thế thứ khi đối chiếu với hệ phả Nguyễn Gia Miêu. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Nhuệ đã chỉ rõ vấn đề này.
Do đó, Nguyễn Như Trác nên được nhìn như một thế hệ duy trì vốn xã hội của gia tộc, chứ không nhất thiết phải là người tạo ra một bước ngoặt chính trị lớn.
5. Nguyễn Văn Lưu và sự mở rộng không gian hoạt động
Theo truyền thống phả hệ Nguyễn Gia Miêu, Nguyễn Văn Lưu là con Nguyễn Như Trác và là cha Nguyễn Kim.
Nguyễn Văn Lưu được gia phả ghi nhận với tước Trừng Quốc công và chức Kinh lược sứ Đà Giang. Đây là điểm cần đặc biệt giữ chính xác, bởi một số tài liệu thứ cấp đã chuyển chức Kinh lược sứ Đà Giang từ Nguyễn Văn Lưu sang Nguyễn Như Trác.
Nếu phân biệt đúng hai thế hệ thì có thể thấy một sự chuyển biến:
• • Nguyễn Như Trác: thế hệ duy trì vị thế quan lại của gia tộc;
• • Nguyễn Văn Lưu: thế hệ mở rộng hoạt động sang không gian Đà Giang và tham dự trực tiếp hơn vào biến động chính trị đầu thế kỷ XVI;
• • Nguyễn Kim: thế hệ chuyển mạng lưới ấy thành lực lượng chính trị của phong trào Lê trung hưng.
Như vậy, Gia Miêu là không gian gốc, còn Đà Giang và các vùng hoạt động quân sự – chính trị khác là những không gian mở rộng của dòng họ.
6.Nguyễn Kim: điểm nút của vấn đề phả hệ
Quan hệ giữa Nguyễn Kim với Nguyễn Văn Lưu và Nguyễn Hoằng Dụ là vấn đề khó nhất.
Có thể phân biệt hai truyền thống.
6.1. Truyền thống Gia Miêu – Nguyễn Phúc Tộc
Theo hệ phả này:
Nguyễn Công Duẩn-Nguyễn Như Trác-Nguyễn Văn Lưu-Nguyễn Kim.
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Nhuệ dựa trên hệ thống gia phả họ Nguyễn phát tích từ Gia Miêu cũng xác định Nguyễn Văn Lưu thuộc chi 4, còn Nguyễn Văn Lang thuộc chi 5; đến đời sau Nguyễn Kim thuộc chi 4, Nguyễn Văn Lưu, còn Nguyễn Hoằng Dụ thuộc chi 5, Nguyễn Văn Lang
6.2. Truyền thống thư tịch
Đại Việt sử ký toàn thư ghi Nguyễn Kim là người Bái Trang, huyện Tống Sơn và chú “có thuyết nói” ông là con Nguyễn Hoằng Dụ. Chính cách ghi “có thuyết nói” cho thấy thông tin này đã được sử thần xem như một thuyết, chứ không phải một dữ kiện hoàn toàn không tranh cãi.
Đáng chú ý, Đại Việt thông sử và Phủ biên tạp lụccủa Lê Quý Đôn cũng có những cách trình bày khác nhau về thế thứ. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Nhuệ đã đối chiếu trực tiếp các nguồn này và cho rằng sự thiếu thống nhất của thư tịch đã dẫn đến nhiều nhầm lẫn trong nghiên cứu hiện đại.
Vì vậy, vấn đề không nên được đặt đơn giản thành:
“Gia phả đúng – chính sử sai”
mà nên đặt thành:
“Vì sao các truyền thống thư tịch và phả hệ lại ghi nhớ quan hệ giữa các chi họ khác nhau?”
Đây là câu hỏi lịch sử quan trọng hơn.
7. Gia Miêu như một địa bàn lịch sử
Giá trị của cách tiếp cận địa văn hóa là giúp giải thích tại sao một dòng họ có thể duy trì địa vị qua nhiều thế hệ.
Theo Trần Quốc Vượng, địa văn hóa phải được nhìn trong quan hệ giữa không gian tự nhiên, con người, cư trú, kinh tế, xã hội và lịch sử, chứ không phải như một “địa thế” bất biến.(Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa của ông được xuất bản năm 1998, Nxb Văn hóa Dân tộc – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội.)
Vận dụng cách nhìn ấy vào Gia Miêu có thể nhận diện bốn lớp không gian:
Một là, không gian cư trú: nơi dòng họ lập nhà, hình thành chi phái và quan hệ làng xã.
Hai là, không gian ruộng đất: nguồn lực vật chất duy trì địa vị của gia đình và dòng họ.
Ba là, không gian quan hệ: từ Gia Miêu, các thành viên bước vào bộ máy nhà Lê, hoạt động tại nhiều địa phương và hình thành mạng lưới chính trị.
Bốn là, không gian ký ức: về sau Gia Miêu – Triệu Tường – Nguyên Miếu được tổ chức thành không gian tổ tiên và không gian thiêng của dòng Nguyễn Phúc.
Do đó, Gia Miêu không chỉ là “quê tổ”; đó là nơi địa phương, dòng họ và quyền lực nhà nước giao nhau trong thời gian dài.
7.Từ Gia Miêu đến Sầm Châu: sự chuyển hóa của mạng lưới dòng họ
Đến Nguyễn Kim, mạng lưới của dòng Nguyễn bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Nguyễn Kim rời Đại Việt và sau đó xây dựng lực lượng tại Sầm Châu, dựa vào Ai Lao, nhằm khôi phục nhà Lê. Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận quá trình Nguyễn Kim cùng lực lượng của mình dựa vào Sầm Châu để chiêu tập binh lính và mưu đồ trung hưng nhà Lê.
Như vậy, không gian hoạt động có thể được mô hình hóa:
Gia Miêu → Thanh Hóa → triều đình Lê → không gian biên giới → Sầm Châu → Lê trung hưng.
Đây là một bước chuyển quan trọng: một mạng lưới xuất phát từ một cộng đồng địa phương trở thành một mạng lưới chính trị xuyên vùng.
8.Từ Nguyễn Kim đến Nguyễn Hoàng: chuyển dịch về phương Nam
Sau khi Nguyễn Kim mất năm 1545, cục diện phe Lê trung hưng thay đổi. Nguyễn Hoàng – con Nguyễn Kim – bước vào một không gian chính trị mới.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Từ đây, thế lực Nguyễn dần hình thành một trung tâm quyền lực riêng ở Thuận Hóa – Quảng Nam.
Điều đáng chú ý là quá trình này không thể hiểu đơn giản là sự “mang nguyên Gia Miêu vào phương Nam”. Thuận Hóa và Quảng Nam có điều kiện địa lý, cư dân, kinh tế, giao thương và lịch sử khác biệt. Thế lực Nguyễn phải thích nghi với môi trường mới và từ đó hình thành những đặc điểm riêng của chính quyền Đàng Trong.
Như vậy, có thể nhận diện một quá trình chuyển dịch:
địa vị dòng họ → mạng lưới chính trị → quyền lực khu vực → chính quyền Đàng Trong.
9.Nguyễn Như Trác: “nhân vật bản lề” chứ không phải “người khai sáng cơ nghiệp”
Từ những tư liệu hiện có, không nên gọi Nguyễn Như Trác là người “khai sáng cơ nghiệp nhà Nguyễn”. Cách gọi ấy là một sự hồi cố từ kết quả lịch sử về quá khứ.
Ông không thể biết rằng nhiều thế hệ sau hậu duệ của mình sẽ trở thành các Chúa Nguyễn và rồi hình thành vương triều Nguyễn.
Cách đánh giá phù hợp hơn là:
Nguyễn Như Trác là một nhân vật bản lề trong quá trình duy trì và chuyển hóa địa vị của dòng Nguyễn Gia Miêu từ thế hệ công thần Lê sơ sang mạng lưới chính trị của thế kỷ XVI.
Vị trí ấy thể hiện ở ba điểm:
1. Về dòng họ: ông nối thế hệ Nguyễn Công Duẩn với Nguyễn Văn Lưu.
2. Về xã hội – chính trị: ông thuộc thế hệ duy trì địa vị quan lại – quân sự của một gia đình công thần.
3. Về ký ức: theo truyền thống phả hệ Gia Miêu, ông là một mắt xích trực tiếp trong dòng dẫn tới Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng.
10.Một mô hình lịch sử cần thận trọng
Có thể cô đọng tiến trình thành:
Nguyễn Công Duẩn-công thần, tạo dựng địa vị và nguồn lực
Nguyễn Như Trác-duy trì địa vị quan lại – xã hội của dòng họ
Nguyễn Văn Lưu-mở rộng hoạt động và tham dự biến động chính trị đầu thế kỷ XVI
Nguyễn Kim-chuyển mạng lưới dòng họ thành lực lượng Lê trung hưng
Nguyễn Hoàng-chuyển dịch trung tâm quyền lực vào Thuận Hóa – Quảng Nam
Các Chúa Nguyễn-xây dựng chính quyền Đàng Trong
Vương triều Nguyễn-hoàn tất quá trình chuyển hóa dòng họ thành một triều đại.
Tuy nhiên, đây phải được xem là một mô hình giải thích lịch sử – xã hội, không phải một chuỗi quan hệ đã được mọi nguồn xác nhận thống nhất.
11.Kết luận
Nguyễn Như Trác, tự Hạo, thụy Đức Khánh, theo truyền thống gia phả Nguyễn Gia Miêu là con thứ tư của Hoằng Quốc công Nguyễn Công Duẩn, cha của Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu và là ông nội Nguyễn Kim theo hệ phả Nguyễn Phúc Tộc. Tư liệu phả hệ ghi ông làm quan dưới thời Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông, giữ chức Tham Đốc, tước Hầu và sau khi mất được truy phong Thái Bảo, Phó Quốc công. Tuy nhiên, năm mất và nhiều chi tiết về hành trạng của ông chưa được các nguồn độc lập xác nhận đầy đủ.
Vì vậy, giá trị lịch sử của Nguyễn Như Trác không nên tìm kiếm chủ yếu ở những chiến công riêng lẻ. Ý nghĩa của ông nằm trong tính liên tục của một dòng họ và một địa bàn lịch sử.
Từ Nguyễn Công Duẩn, dòng Nguyễn Gia Miêu có được vốn công trạng, địa vị và nguồn lực. Qua Nguyễn Như Trác, địa vị ấy được duy trì. Qua Nguyễn Văn Lưu, mạng lưới gia tộc mở rộng vào không gian chính trị – quân sự. Qua Nguyễn Kim, mạng lưới ấy trở thành một lực lượng quan trọng của phong trào Lê trung hưng. Qua Nguyễn Hoàng, trung tâm quyền lực tiếp tục dịch chuyển về Thuận Hóa – Quảng Nam và hình thành thế lực Nguyễn ở Đàng Trong.
Trong tiến trình ấy, Gia Miêu không chỉ là quê tổ mà là một địa bàn lịch sử, nơi cư trú, ruộng đất, dòng họ, chức tước, quan hệ chính trị và ký ức tổ tiên được tích lũy và chuyển hóa qua nhiều thế hệ.
Đối với quan hệ Nguyễn Văn Lưu – Nguyễn Kim, chúng ta cần tiếp tục giữ thái độ thận trọng. Đại Việt sử ký toàn thư ghi thuyết Nguyễn Kim là con Nguyễn Hoằng Dụ, trong khi truyền thống Gia Miêu – Nguyễn Phúc Tộc xác định Nguyễn Văn Lưu là thân phụ Nguyễn Kim. Nghiên cứu hiện đại của Nguyễn Đức Nhuệ cho thấy ngay trong hệ thống thư tịch cổ cũng tồn tại những bất nhất về thế thứ giữa Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ và Nguyễn Kim.
Do đó, điểm đáng nghiên cứu không chỉ là “ai là cha Nguyễn Kim?”, mà còn là quá trình các chi họ, cộng đồng địa phương và hậu thế đã ghi nhớ, phân biệt hoặc tái cấu trúc quan hệ thân tộc như thế nào.
Nhìn từ đó, Nguyễn Như Trác có thể được định vị như một “nhân vật bản lề của địa văn hóa – lịch sử Gia Miêu”: không phải người trực tiếp khai sáng cơ nghiệp Chúa Nguyễn, nhưng là một mắt xích trong sự liên tục của huyết thống, địa vị xã hội, nguồn lực vật chất, mạng lưới chính trị và ký ức dòng họ.
Đó cũng là cách tiếp cận giúp Gia Miêu vượt khỏi khái niệm đơn thuần về một “quê tổ”, để trở thành một trường lịch sử trong đó đất – người – dòng họ – nhà nước – quyền lực và ký ức tương tác qua nhiều thế kỷ
Tài liệu tham khảo chính
I. Chính sử và thư tịch
1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Viện Sử học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, 4 tập.
2. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, trong Lê Quý Đôn toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, trong Lê Quý Đôn toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Tác phẩm hoàn thành năm 1776–1777;
4. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006. Có
5.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.
II. Gia phả và tư liệu dòng Nguyễn Phúc
1. Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc Tộc, Nguyễn Phúc Tộc thế phả, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1995. Công việc biên soạn được tiến hành từ Canh Ngọ 1990 đến Quý Dậu 1993; sách hoàn thành và xuất bản năm 1995.
2. Tôn Nhơn phủ, Hoàng Tộc Lược Biên, 1943, bản do hệ thống Nguyễn Phúc Tộc sử dụng làm một trong những nguồn nền tảng cho tôn phả hiện nay.
3. Các Nguyễn Gia phả ký, Nguyễn Hữu tộc phảvà tư liệu dòng họ tại Gia Miêu Ngoại Trang ,đối chiếu trực tiếp với bản gốc, niên đại, người sao chép, dấu tích sửa chữa và truyền thừa văn bản trước khi dùng làm chứng cứ quyết định.
III. Nghiên cứu hiện đại
1. Nguyễn Đức Nhuệ, “Nguyễn Kim và công cuộc tái lập Vương triều Lê”, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 3 (2022), phát hành ngày 31-1-2023, tr. 100–109. Bài viết đặc biệt quan trọng đối với vấn đề Nguyễn Văn Lưu – Nguyễn Văn Lang – Nguyễn Kim – Nguyễn Hoằng Dụ và sự khác biệt giữa gia phả với các thư tịch.
2. Viện Sử học, Vũ Duy Mền và cộng sự, Lịch sử Việt Nam, bộ 15 tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Đối với giai đoạn liên quan, cần ưu tiên Tập 3: Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI, do Tạ Ngọc Liễn chủ biên, với các tác giả gồm Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Đức Nhuệ, Nguyễn Minh Tường, Vũ Duy Mền. Bộ sách là công trình của Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
IV. Cơ sở phương pháp luận địa văn hóa
1. Trần Quốc Vượng, Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 1998, 495 tr. Đây là tài liệu nền tảng để vận dụng cách tiếp cận địa – văn hóa trong nghiên cứu Gia Miêu.
2. Trần Quốc Vượng (chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền và cộng sự, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1999
Tác giả: Nguyễn Phước Bửu Nam